Trong thực tiễn giao kết và thực hiện các giao dịch dân sự, phaplybinhduong nhận thấy rằng điều kiện thường được các bên đưa ra nhằm gắn việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ với một sự kiện nhất định trong tương lai. Tuy nhiên, không phải lúc nào các sự kiện đó cũng ổn định, mà đôi khi còn chịu tác động bởi những yếu tố khách quan có thể làm thay đổi nội dung giao dịch ban đầu. Bài phân tích sau đây sẽ làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ luật Dân sự hiện hành có quy định về giao dịch/hợp đồng có điều kiện nhưng lại chưa làm rõ khái niệm “điều kiện”. Theo từ điển, “điều kiện” được hiểu là “thứ cần phải có để cho cái khác tồn tại” hay yếu tố cần thiết để đạt được một mục đích nhất định. Trong lĩnh vực bất động sản, hợp đồng chuyển nhượng kèm điều kiện là loại hợp đồng mà theo đó bên chuyển nhượng (chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng đất, nhà ở…) đồng ý chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản cho bên nhận nhưng kèm theo một hoặc nhiều điều kiện nhất định mà bên nhận buộc phải đáp ứng. Những điều kiện này có thể gắn với nghĩa vụ tài chính (như thanh toán đầy đủ giá trị hợp đồng), nghĩa vụ pháp lý (xin giấy phép xây dựng, thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất), hoặc nghĩa vụ nhân thân – xã hội (chẳng hạn chăm sóc người bán, duy trì việc thờ cúng…).
Thực tiễn, điều kiện trong hợp đồng bất động sản thường thể hiện dưới nhiều dạng.
Thứ nhất, Điều kiện phát sinh:
Là những sự kiện thực tế có thể xảy ra và khi xảy ra sẽ làm cho hợp đồng phát sinh hiệu lực. Căn cứ khoản 1 Điều 120 Bộ luật dân sự 2015, “Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ.”.
Trước khi điều kiện xảy ra, quyền và nghĩa vụ của các bên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm ẩn, khác với nghĩa vụ mang tính bắt buộc khi hợp đồng đã có hiệu lực.
Chẳng hạn, A ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho B với thỏa thuận chỉ khi B hoàn tất việc thanh toán thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực. Tuy nhiên, trên thực tế khó phân định rạch ròi điều kiện phát sinh và điều kiện thực hiện nghĩa vụ, vì đôi khi hợp đồng vừa có hiệu lực ngay khi ký, nhưng việc chuyển quyền lại gắn với nghĩa vụ phải hoàn tất sau đó. Điều này dễ dẫn đến tranh chấp nếu các bên không thỏa thuận rõ ràng.
Thứ hai, Điều kiện thực hiện:
Tại Điều 284 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Điều 284. Thực hiện nghĩa vụ có điều kiện
- Trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về điều kiện thực hiện nghĩa vụ thì khi điều kiện phát sinh, bên có nghĩa vụ phải thực hiện.
- Trường hợp điều kiện không xảy ra hoặc xảy ra do có sự tác động của một bên thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 120 của Bộ luật này.”
Theo đó khi sự kiện đã được thỏa thuận phát sinh thì bên có nghĩa vụ phải thực hiện.
Ví dụ: A tặng cho B một căn nhà với điều kiện B phải chăm sóc, nuôi dưỡng A khi A bệnh tật cho đến khi A qua đời. Đây là trường hợp hợp đồng tặng cho có điều kiện. Điều kiện ở đây chính là sự kiện A bị ốm đau, bệnh tật – một sự kiện phát sinh trong tương lai. Theo khoản 1 Điều 284 BLDS 2015, khi điều kiện phát sinh thì nghĩa vụ của B mới được xác lập, tức là chỉ khi A thực sự lâm bệnh thì B mới có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu B không thực hiện nghĩa vụ này, A hoặc người thừa kế hợp pháp của A có quyền yêu cầu B trả lại căn nhà đã tặng cho.
Điều kiện thực hiện nghĩa vụ có thể xuất hiện khi sự kiện khách quan xảy ra hoặc do ý chí chủ quan của con người quy định. Vấn đề quan trọng là phải xác định rõ nghĩa vụ nào phát sinh ngay khi hợp đồng có hiệu lực và nghĩa vụ nào chỉ phát sinh khi điều kiện được đáp ứng để áp dụng đúng quy định pháp luật. Trong các giao dịch, đặc biệt là liên quan đến bất động sản, đôi khi rất khó phân định rạch ròi giữa nghĩa vụ kèm điều kiện phát sinh và nghĩa vụ có điều kiện thực hiện, do đó cần dựa vào thỏa thuận cụ thể giữa các bên và bản chất của sự kiện được coi là điều kiện.
Ví dụ: A ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho B. Trong hợp đồng có thỏa thuận: “Việc chuyển nhượng có hiệu lực ngay từ ngày ký, nhưng B chỉ được làm thủ tục sang tên khi đã thanh toán đủ số tiền theo hợp đồng.” Ở đây, thấy rằng:
- Nếu coi điều kiện là việc thanh toán đủ tiền, thì hợp đồng mới có hiệu lực khi B thực hiện xong nghĩa vụ. Nghĩa là quyền và nghĩa vụ của các bên chỉ hình thành khi điều kiện này xảy ra.
- Nhưng nếu hiểu rằng hợp đồng đã có hiệu lực ngay từ thời điểm ký, còn việc thanh toán chỉ là nghĩa vụ cần thực hiện, thì việc sang tên chỉ bị trì hoãn cho đến khi B hoàn tất nghĩa vụ.
Thực tế, không dễ xác định đây là “điều kiện phát sinh hiệu lực” hay “điều kiện thực hiện nghĩa vụ”, bởi hợp đồng vừa thể hiện ý chí muốn chuyển nhượng ngay, vừa gắn việc sang tên với một sự kiện trong tương lai. Điều này thường dẫn đến tranh chấp: B cho rằng hợp đồng có hiệu lực từ khi ký, còn A khẳng định quyền chuyển nhượng chỉ hoàn tất khi B thanh toán xong. Vì vậy, nếu các bên không thỏa thuận rõ ràng, rất khó xác định thứ tự và thời điểm thực hiện nghĩa vụ, dễ gây rủi ro pháp lý khi tranh chấp xảy ra.
Thứ ba, Điều kiện thay đổi
Là những sự kiện hợp pháp phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch, mà khi xảy ra sẽ làm thay đổi nội dung, phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Khác với điều kiện phát sinh, vốn chỉ làm cho giao dịch hoặc nghĩa vụ bắt đầu có hiệu lực khi sự kiện xảy ra, điều kiện thay đổi tồn tại trong bối cảnh giao dịch đã có hiệu lực và đang được thực hiện. Các bên thường thỏa thuận trước về những tình huống thực tế có thể phát sinh, coi đó là điều kiện để điều chỉnh, bổ sung hoặc giới hạn quyền, nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Ví dụ: A cho B thuê một tòa nhà trong 5 năm với thỏa thuận: “Nếu Nhà nước điều chỉnh tăng thuế đất thì bên thuê phải chia sẻ thêm 20% chi phí phát sinh cho bên cho thuê.” → Ở đây, sự kiện “Nhà nước điều chỉnh tăng thuế” là điều kiện thay đổi. Khi điều kiện xảy ra, nội dung hợp đồng được điều chỉnh, nghĩa vụ trả tiền thuê của B sẽ tăng.
Thứ tư, Điều kiện chấm dứt
Là loại điều kiện có thể dẫn đến việc chấm dứt giao dịch. Trong trường hợp này, một bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cho đến khi điều kiện xảy ra. Khi sự kiện phát sinh theo thỏa thuận hoặc pháp luật quy định, nghĩa vụ của các bên sẽ tự động chấm dứt.
Ví dụ: A ký hợp đồng cho B thuê đất để kinh doanh trong thời hạn 10 năm, nhưng có thỏa thuận: “Nếu Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội thì hợp đồng thuê sẽ chấm dứt.” Ở đây, sự kiện thu hồi đất là điều kiện chấm dứt, khi phát sinh sẽ làm quan hệ thuê đất kết thúc mà không phải do lỗi của các bên.
Cuối cùng, Điều kiện hủy bỏ
Được quy định tại các Điều 423 – 427 BLDS 2015. Đây là sự thỏa thuận trước rằng khi sự kiện nhất định xảy ra thì hợp đồng sẽ bị hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần, khác với chế tài hủy bỏ hợp đồng do vi phạm nghĩa vụ.
Ví dụ: Các bên thỏa thuận nếu trong thời gian 6 tháng Nhà nước không phê duyệt dự án thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ bị hủy bỏ. Hoặc trong bối cảnh dịch Covid-19, nếu bên thuê không thể kinh doanh được theo quy định của Nhà nước thì hợp đồng thuê có thể bị hủy bỏ theo điều kiện đã thỏa thuận.
Điều 427 BLDS 2015 quy định hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng, gồm: hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục nghĩa vụ (trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường, giải quyết tranh chấp), các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, việc hoàn trả được thực hiện đồng thời và bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường. Với quyền nhân thân, hậu quả được giải quyết theo quy định riêng. Tuy nhiên, BLDS 2015 vẫn chưa quy định cụ thể hợp đồng có điều kiện hủy bỏ mà trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện một phần thì sẽ xử lý thế nào. Ví dụ, nếu hợp đồng chuyển nhượng đất đã giao đất, thanh toán một phần tiền rồi mới phát sinh điều kiện hủy bỏ, thì việc hoàn trả, bồi thường và xử lý chi phí phát sinh cần có hướng dẫn rõ ràng.
Pháp luật Pháp tại Điều 1183 BLDS quy định rằng khi điều kiện hủy bỏ xảy ra thì nghĩa vụ bị hủy bỏ, các bên khôi phục tình trạng ban đầu như chưa từng cam kết, đồng thời điều kiện hủy bỏ không làm hoãn việc thực hiện nghĩa vụ mà chỉ buộc hoàn trả khi sự kiện thỏa thuận xảy ra. Đây là cơ chế có thể tham khảo trong bối cảnh Việt Nam. Vì vậy, khi thỏa thuận điều kiện hủy bỏ, các bên nên dự liệu rõ sự kiện nào được coi là điều kiện, phạm vi hủy bỏ toàn bộ hay một phần, cũng như hậu quả pháp lý kèm theo như hoàn trả, bồi thường, xử lý chi phí. Điều này giúp hạn chế tranh chấp, bảo vệ quyền lợi của các bên và đảm bảo sự minh bạch trong quan hệ hợp đồng.
Điều kiện trong hợp đồng bất động sản không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn đặt ra nhiều vấn đề trong thực tiễn xét xử. Khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.” Các luật chuyên ngành cũng có quy định cụ thể: Điều 164 Luật Nhà ở 2023 yêu cầu hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở phải được công chứng hoặc chứng thực; Điều 27 Luật Đất đai 2024 cũng đặt ra yêu cầu công chứng, chứng thực đối với các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trừ một số trường hợp đặc biệt. Như vậy, phần lớn các giao dịch bất động sản đều bắt buộc phải được lập thành văn bản, công chứng hoặc chứng thực và đăng ký để bảo đảm hiệu lực pháp lý.
Trong thực tiễn, bên cạnh việc tuân thủ hình thức bắt buộc, các bên còn có thể thỏa thuận những điều kiện kèm theo giao dịch, song điều kiện này cần được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng hoặc ít nhất phải thể hiện minh thị thông qua các văn bản, tài liệu có liên quan. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn có những trường hợp điều kiện dù không ghi trong hợp đồng nhưng vẫn được pháp luật công nhận.
Một là, những trường hợp điều kiện chỉ tồn tại dưới dạng thỏa thuận miệng, mang tính ngầm định.
Điển hình là trong Bản án số 68/2018/DS-PT ngày 13/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre: bà N lập hợp đồng tặng cho ông H 925,2m² đất, hợp đồng không ghi điều kiện nuôi dưỡng, nhưng thực tế hai bên có thỏa thuận miệng rằng ông H phải nuôi dưỡng bà suốt đời. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H không thực hiện nghĩa vụ này. Tòa án sơ thẩm xét rằng “có cơ sở xác định việc tặng cho phần đất nêu trên là tặng cho có điều kiện. Với trách nhiệm là con, thì lẽ ra ông H phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng bà N, nhưng ông H không chăm sóc bà N mà còn có thái độ không tốt với mẹ mình. Và hành vi này của ông H đã vi phạm thỏa thuận giữa ông và bà N khi thực hiện hợp đồng tặng cho phần diện tích 925,2m2 từ bà N sang ông H.” Trên cơ sở đó tòa án tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Mặc khác, Tại Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng. Cụ thể “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không ghi điều kiện tặng cho nhưng tại các văn bản, tài liệu khác có liên quan thể hiện các bên đã có thỏa thuận, thống nhất về điều kiện tặng cho và điều kiện tặng cho là hợp pháp. Trường hợp này, Tòa án phải công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đó là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện.”
Có thể thấy, dù điều kiện không được ghi nhận trong hợp đồng, nhưng nếu có căn cứ chứng minh rằng các bên đã thỏa thuận và mục đích của giao dịch phản ánh rõ ràng ý chí của bên tặng cho, thì Tòa án khi xem xét phải đồng thời căn cứ vào: (i) điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; (ii) tính hợp pháp của sự kiện được coi là điều kiện; và (iii) tính thực tế của sự kiện làm phát sinh điều kiện. Điều đó cho thấy, pháp luật không chỉ bảo đảm hình thức của giao dịch mà còn chú trọng đến bản chất, ý chí thật sự của các bên, trên cơ sở tôn trọng thỏa thuận tự nguyện, miễn là không vi phạm điều cấm của luật và đạo đức xã hội.
Hai là, phụ thuộc vào sự xác định của Tòa án
Án lệ số 39/2020/AL, đã nhận định “có cơ sở xác định cụ C đã thỏa thuận bán một phần căn nhà số 182 đường A đang thuê của Nhà nước cho bà C1 với điều kiện khi cụ C được Nhà nước hóa giá, hay nói cách khác, giao dịch giữa cụ C và bà C1 là giao dịch dân sự có điều kiện, khi nào cụ C được Nhà nước bán hóa giá nhà thì giao dịch phát sinh hiệu lực.” Từ đó nội dung án lệ như sau: “người thuê nhà ở thuộc sở hữu của nhà nước (bên bán) cam kết sau khi mua hóa giá nhà của nhà nước sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu nhà cho bên mua, bên bán đã nhận tiền và giao tiền cho bên mua nhưng sau đó nhà nước không hóa giá và không nhận quyền sở hữu nhà. Trường hợp này, phải xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà là giao dịch dân sự có điều kiện nhưng vô hiệu do điều kiện của hợp đồng không thể xảy ra.”
Ba là, Đánh giá tính hợp pháp của điều kiện trong giao dịch bất động sản:
Tính hợp pháp là yêu cầu điều kiện phải phù hợp với quy định của pháp luật, được thể hiện trong Bộ luật Dân sự. Về nguyên tắc, BLDS quy định mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Ví dụ, Điều 462 BLDS quy định về tặng cho tài sản có điều kiện: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”
Đạo đức xã hội được hiểu là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng (Điều 123 BLDS). Đây là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với người khác. Khác với pháp luật, các chuẩn mực đạo đức không được ghi thành văn bản pháp quy mang tính cưỡng chế, mệnh lệnh, nhưng vẫn được mọi người tự giác thực hiện dưới sự chi phối của ý thức xã hội, lương tâm và dư luận xã hội. Với cách hiểu này, nếu một giao dịch được xác lập mà vi phạm chuẩn mực đạo đức, thì giao dịch đó sẽ vô hiệu.
Ví dụ: ông P cho cháu trai Q một căn nhà nhưng kèm điều kiện Q không được chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ ruột khi họ già yếu. Điều kiện này trái với đạo lý “hiếu dưỡng cha mẹ” vốn được coi trọng trong xã hội Việt Nam, nên bị coi là vi phạm điều cấm về đạo đức.
Bốn là, các điều kiện thường gặp trong giao dịch tặng cho bất động sản là điều kiện “không được bán” hoặc “không được chuyển nhượng”.
Điều kiện này gây nhiều tranh luận về tính hợp pháp. Theo pháp luật đất đai, khi người sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận thì họ có đầy đủ quyền định đoạt, bao gồm chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp… Do đó, việc hạn chế tuyệt đối quyền này có thể bị coi là trái luật, dẫn đến điều kiện vô hiệu.
Ví dụ: ông A tặng cho con trai B một thửa đất kèm điều kiện “không được bán, tặng cho hoặc thế chấp cho bất kỳ ai”. Sau khi đứng tên trên Giấy chứng nhận, B muốn chuyển nhượng để kinh doanh nhưng bị ông A phản đối. Trong tình huống này, điều kiện “không được bán” dễ bị coi là không hợp pháp vì đã hạn chế quyền định đoạt hợp pháp của B. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy không phải lúc nào điều kiện này cũng bị vô hiệu. Bản án số 102/2020/DS-PT ngày 21/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh đã công nhận hiệu lực của điều kiện “không được bán” trong hợp đồng tặng cho nhà ở, với mục đích sử dụng làm nơi ở và thờ cúng tổ tiên, vì cho rằng điều kiện này không vi phạm điều cấm của luật và cũng không trái đạo đức xã hội.
Như vậy, cùng một loại điều kiện nhưng Tòa án có thể đưa ra cách đánh giá khác nhau tùy thuộc vào mục đích và bối cảnh giao dịch. Đặc biệt, Luật Nhà ở 2023 (khoản 2 Điều 9) và Luật Đất đai 2024 (Điều 174) đã ghi nhận khả năng giới hạn thời hạn sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất. Do đó, việc hạn chế quyền định đoạt trong một khoảng thời gian nhất định có thể được coi là hợp pháp và phù hợp với ý chí của bên tặng cho.
Xử lý giao dịch không hợp pháp:
Về nguyên tắc, điều kiện trong giao dịch dân sự phải tuân thủ quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự (BLDS) cũng như các quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan để đảm bảo hiệu lực. Nếu điều kiện không đáp ứng các yêu cầu của pháp luật, thì điều kiện đó sẽ vô hiệu theo Điều 122 BLDS. Vấn đề đặt ra là: khi điều kiện bị vô hiệu thì có dẫn đến việc toàn bộ giao dịch bị vô hiệu hay không?
Đối với trường hợp điều kiện vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội, câu hỏi là giao dịch sẽ vô hiệu toàn bộ hay chỉ vô hiệu một phần. Pháp luật dân sự hiện hành không có quy định cụ thể. Tuy nhiên, có thể phân tích rằng, sự vô hiệu của điều kiện trong nhiều trường hợp ảnh hưởng trực tiếp đến mục đích của giao dịch, kéo theo việc mục đích giao dịch không thể thực hiện được; do đó, hợp đồng sẽ vô hiệu toàn bộ. Ngược lại, nếu điều kiện vô hiệu chỉ liên quan đến một phần hợp đồng, trong khi các điều khoản còn lại mang tính độc lập, không bị ảnh hưởng bởi phần điều kiện vô hiệu, thì giao dịch sẽ vô hiệu một phần, còn các phần khác vẫn có hiệu lực.
Ví dụ minh họa là Bản án số 08/2018/DS-ST ngày 13/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An: ông K tặng cho bà R diện tích 207m² đất, kèm theo điều kiện “không được chuyển nhượng”. Tòa án cho rằng điều kiện này trái với quy định của pháp luật đất đai, bởi từ thời điểm người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì họ có quyền và nghĩa vụ theo quy định, trong đó bao gồm cả quyền chuyển nhượng, tặng cho… Do đó, Tòa án không chấp nhận điều kiện kèm theo của ông K. Kết quả, Tòa tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà R, công nhận bà R có quyền sử dụng đối với diện tích 207m² đất. Như vậy, điều kiện tặng cho “không được chuyển nhượng” bị coi là vô hiệu, nhưng không ảnh hưởng đến các nội dung khác của hợp đồng tặng cho. Do đó, hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Hệ quả pháp lý của giao dịch có điều kiện vô hiệu được xác định theo nguyên tắc chung: nếu giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (Điều 131 BLDS).
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng hợp đồng chuyển nhượng bất động sản kèm điều kiện là một dạng giao dịch dân sự phức tạp, vừa gắn liền với tính chất đặc thù của bất động sản, vừa đặt ra nhiều vấn đề về hiệu lực, phạm vi và cách thức thực hiện điều kiện. Bộ luật Dân sự 2015 tuy đã có quy định về giao dịch có điều kiện nhưng vẫn chưa giải thích rõ khái niệm “điều kiện”, cũng như chưa có hướng dẫn cụ thể trong trường hợp điều kiện không thể xảy ra, vô hiệu một phần hay toàn bộ. Thực tiễn xét xử cho thấy việc xác định tính hợp pháp của điều kiện phụ thuộc vào nhiều yếu tố: ý chí thực sự của các bên, sự phù hợp với quy định pháp luật chuyên ngành, cũng như các chuẩn mực đạo đức xã hội. Do vậy, để hạn chế rủi ro pháp lý và tranh chấp, các bên khi giao kết hợp đồng bất động sản cần thỏa thuận rõ ràng, minh bạch về nội dung, phạm vi và hậu quả pháp lý của điều kiện; đồng thời cơ quan lập pháp cũng cần có những quy định chi tiết và thống nhất hơn nhằm bảo đảm tính ổn định, an toàn trong giao lưu dân sự.
Quý đối tác, Quý khách hàng có thể liên hệ với Pháp lý Bất động sản Bình Dương để sử dụng dịch vụ tư vấn các vấn đề về đất đai khác.
Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ.
Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn pháp luật về đất đai của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com.Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật.
Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Luật sư VCT tại địa chỉ: Đường số 7B, khu phố Hòa Phú 3, phường Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh (trước sáp nhập là Đường số 7B, khu phố 3, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương). Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải. Trên đây là toàn bộ nội dung về chủ đề “NHẬN ĐẤT CÓ ĐƯỢC BẢO VỆ VỚI TƯ CÁCH NGAY TÌNH” mà Pháp lý bất động sản Bình Dương muốn gửi đến quý khách hàng.
Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ qua hotline: 0971.17.40.40 hoặc email: Info@luatsuvct.com để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh được hợp tác với quý khách.
CÔNG TY TNHH PHÁP LÝ BẤT ĐỘNG SẢN BÌNH DƯƠNG
- Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phú Lợi, Thủ Dầu Một, Bình DươngXem địa chỉ
- Holine: 0971 174 040
- Webiste: www.phaplybatdongsanbinhduong.com
- CSKH: phaplybatdongsanbinhduong@gmail.com
