Trong hệ thống pháp luật, Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp, tuy nhiên, câu hỏi về trình độ học vấn của những người nằm trong Hội đồng, đặc biệt là yêu cầu về bằng cử nhân luật, luôn là một đề tài được quan tâm hàng đầu. Vậy hãy cùng tìm hiểu thông qua bài viết này nhé!
1. Tranh chấp đất đai là gì?
Căn cứ theo quy định tại khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định về khái niệm tranh chấp đất đai cụ thể như sau:
“Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.”
Trên thực tế thì tranh chấp đất đai có phạm vi rất rộng, sẽ rất khó trong việc áp dụng pháp luật, nhất là khi khởi kiện tranh chấp đất đai.
Cụ thể tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đã xác định tranh chấp đất đai với phạm vi hẹp hơn, cụ thể:
- Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

2. Hòa giải tranh chấp đất đai được quy định cụ thể như thế nào?
Việc hòa giải tranh chấp đất đai được ghi nhận tại Điều 235 Luật Đất đai 2024 với nội dung như sau:
– Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật.
– Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 của Luật này, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp được thực hiện như sau:
+ Sau khi nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai.
+ Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai.
+ Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tham gia hòa giải và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp;
+ Trường hợp hòa giải không thành mà một hoặc các bên tranh chấp không ký vào biên bản thì Chủ tịch Hội đồng, các thành viên tham gia hòa giải phải ký vào biên bản, đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã và gửi cho các bên tranh chấp.
– Hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải, đối thoại tại Tòa án và pháp luật về tố tụng dân sự. Hòa giải tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan tới đất đai bằng hòa giải thương mại thực hiện theo pháp luật về hòa giải thương mại.
– Đối với trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này mà hòa giải thành và có thay đổi hiện trạng về ranh giới, diện tích, người sử dụng đất thì trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, các bên tham gia hòa giải phải gửi văn bản công nhận kết quả hòa giải thành đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định.

3. Những người nằm trong Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai có bắt buộc phải có bằng Cử nhân luật
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 và Điểm e Khoản 1 Điều 17 Nghị định 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai quy định thành phần tham gia Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai như sau:
Thành phần Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai bao gồm:
– Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Hội đồng.
– Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
– Công chức làm công tác địa chính.
– Người sinh sống lâu năm biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất tranh chấp (nếu có).
– Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp xã
– Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện tổ chức, cá nhân khác tham gia Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai.
Như vậy, thành phần Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai không phải bắt buộc tất cả phải có bằng cử nhân luật. Tuy nhiên, Hội đồng có thể mời những người có trình độ pháp lý tham gia để đảm bảo tính khách quan và đúng pháp luật trong quá trình hòa giải.
Trên đây, Pháp lý bất động sản Bình Dương vừa phân tích các quy định liên quan đến “Những người nằm trong Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai có bắt buộc phải có bằng Cử nhân luật?”. Nếu có bất kỳ thắc mắc gì, hãy liên hệ ngay Pháp lý bất động sản Bình Dương để được giải đáp nhanh chóng nhất nhé!
>> Xem thêm:
1. THỦ TỤC XIN TRÍCH LỤC BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH MỚI NHẤT
2. TƯ CÁCH PHÁP NHÂN LÀ GÌ? ẢNH HƯỞNG GÌ ĐẾN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
CÔNG TY TNHH PHÁP LÝ BẤT ĐỘNG SẢN BÌNH DƯƠNG
- Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phú Lợi, Thủ Dầu Một, Bình DươngXem địa chỉ
- Holine: 0971 174 040
- Webiste: www.phaplybatdongsanbinhduong.com
- CSKH: phaplybatdongsanbinhduong@gmail.com
